MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
T.s. Phêrô Nguyễn Khắc Hà, MIC
Biểu tượng của Đức tin Kitô giáo chính là Thánh Giá Chúa Giêsu. Trong một ngày sống, chúng ta làm dấu Thánh giá biết bao nhiêu lần: trước khi đi ngủ và sau khi thức giấc, trước và sau khi ăn cơm, trước và sau khi cầu nguyện, trong suốt cử hành Thánh Lễ,… Vậy, dấu Thánh giá có ý nghĩa gì? Dấu Thánh giá nói lên điều gì? Nhiều người cho rằng Thánh giá diễn tả sự đau đớn, tủi nhục, khổ cực của Đức Giêsu – Con Thiên Chúa nhập thể. Và mỗi khi nhìn lên Thánh giá, họ cảm thấy rung động và thương xót Chúa. Tuy nhiên, (kính thưa cộng đoàn) Thánh giá tiên vàn không phải là dấu chỉ của khổ đau, không phải là dấu chỉ của sự tủi nhục và Thiên Chúa càng không muốn chúng ta khóc thương Người. Nhưng Thánh giá là dấu chỉ của TÌNH YÊU, tình yêu không giới hạn của Thiên Chúa dành cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô. Thánh giá có hai chiều: ngang và dọc, diễn tả hai chiều kích của tình yêu. Chiều dọc diễn tả tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa; còn chiều ngang diễn tả tình yêu của chúng ta đối với tha nhân. Vậy, chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa và yêu mến tha nhân như thế nào? Đâu là cốt lõi của tình yêu?
Trước tiên, chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa. Điều này được tỏ hiện rõ ràng trong câu trả lời của Đức Giêsu: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi” (Mt 22,36). “Yêu hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn” có nghĩa là gì? Yêu đến hết có nghĩa là trao ban đi tất cả, cho đi tất cả những gì mình có, tự nguyện làm cho tôi không còn gì và “quy phục tận hiến hoàn toàn, chứ không lưng chừng nửa vời”[1].
Vì tình yêu dành cho Thiên Chúa, chúng ta phải loại bỏ hết tất cả những thần tượng hư ảo đang chiếm chỗ trong trái tim mình, và đặt Thiên Chúa trên hết mọi sự trong cuộc đời của mỗi người chúng ta. Sống trong thời đại ngày hôm nay, chúng ta dễ dàng bị lôi cuốn thờ lạy những ngẫu tượng hư ảo như tiền tài, danh vọng và hạnh phúc phù phiếm. Có biết bao nhiêu người vì tiền mà sống ngược lại với Tin Mừng và bẻ gãy giới răn của Thiên Chúa! Có biết bao nhiêu người vì danh vọng, chức tước mà chống lại Giáo Hội hay gia nhập vào những đảng phái vô thần! Có biết bao nhiêu người đi tìm hạnh phúc nhưng lại không tìm kiếm hạnh phúc trong Thiên Chúa! Nếu giả như họ có tìm kiếm được hạnh phúc thì hạnh phúc ấy cũng chỉ là nhất thời và hữu hạn mà thôi.
Hơn thế nữa, yêu mến Thiên Chúa là chết đi những ý riêng của bản thân và vâng phục Thiên Chúa[2]. Đó là ý nguyện mà chúng ta thường đọc trong kinh Lạy Cha: “xin cho ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên Trời” (Mt 6,10). Ý Cha chứ không phải là ý con.

Tiếp theo, chúng ta phải yêu mến tha nhân. Điểm độc đáo ở đây là điều răn yêu người được đặt ngang hàng với điều răn đầu tiên và có tầm quan trọng như nhau[3]. Yêu mến Thiên Chúa và yêu mến tha nhân là hai điều răn không thể tách rời khỏi nhau; tuy là hai nhưng chỉ là một: “mến Chúa yêu người”. Chính vì thế, để yêu mến tha nhân chúng ta cũng cần phải quên đi chính mình.[4] Tình yêu luôn luôn đòi hỏi sự hy sinh và đau khổ. Bài đọc một cho chúng ta thấy rõ điều đó. Thiên Chúa truyền cho dân Người hãy yêu thương tha nhân với một tình yêu vô điều kiện, cho dù họ là khách ngoại kiều, cô nhi quả phụ, người nghèo hay những kẻ thiếu thốn. Thật vậy, theo logic của con người, chỉ có những ai ngu dốt mới giúp đỡ khách ngoại kiều, những người mình không hề quen biết, những người nay ở mai đi. Chỉ có những người ngu dốt mới giúp đỡ cô nhi quả phụ, những người không có gì để trả lại cho mình. Chỉ có những người ngu dốt mới cho người nghèo mượn tiền, những người không có gì để nhét cho đầy bụng thì lấy tiền ở đâu mà trả nợ và lãi. Chỉ có những người ngu dốt mới đưa áo của người láng giềng cầm cố cho họ vào chiều tối, lỡ họ bỏ chạy thì sao! Yêu thương những người như thế đòi buộc chúng ta phải chết đi sự an toàn, sự bảo đảm và sự keo kiệt của bản thân.
Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị đã khẳng định rằng: “Trong tình yêu luôn luôn có đau khổ, nhưng trong đau khổ chưa chắc đã có tình yêu”[5]. Thật vậy, tình yêu luôn luôn đòi hỏi yếu tố từ bỏ mình. Một tình yêu mà không có việc từ bỏ mình và chết đi chính mình thì đó là một tình yêu giả dối. Một chàng thanh niên nói với một cô thiếu nữ rằng anh yêu em, nhưng khi nào cũng muốn cô gái phục tùng mình; anh ta đi tìm thú vui và đam mê của thân xác mà không hề từ bỏ một điều gì đó (ví dụ cờ bạc, rượu chè, ăn chơi,…) vì tình yêu dành cho cô gái. Vậy đó có phải là tình yêu đích thực hay không? Một người chồng không bỏ chút ít thời gian của mình để hiện diện bên vợ và các con, vậy đó có phải là tình yêu đích thực hay không? Một tu sĩ chỉ muốn an nhàn trong tu viện mà không từ bỏ mình để phục vụ cộng đoàn dân Chúa , vậy đó có phải là tình yêu đích thực hay không?
Thánh Phaolô và những cộng sự viên của ngài đã nêu gương cho cộng đoàn tín hữu Thêxalônica về tình yêu tuyệt hảo ấy. Ngài nói: “Khi chúng tôi còn ở giữa anh em, anh em biết chúng tôi sống thế nào vì anh em” (1 Tx 1,5). Chắc hẳn, lối sống của Thánh Phaolô và các cộng sự viên của ngài là lối sống tình yêu, một lối sống không phải vì mình nhưng “vì anh em”, vì người khác. Thực vậy, sống tình yêu là chứng tá hoàn hảo nhất trước mặt người đời, bởi lẽ tình yêu là căn tính của người Kitô hữu. Chính vì thế, đạo Công giáo còn được gọi là đạo của tình yêu. Chúng ta hãy sống như cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, để dân ngoại phải thốt lên rằng “hãy xem họ yêu thương nhau biết mấy” (x. Cv 2,44-47; Ga 13,34-35).
Sau cùng, Đức Giêsu Kitô – Con Thiên Chúa nhập thể đã chết vì yêu. Chúa Giêsu không chỉ trả lời bằng lời nói nhưng chính cuộc đời của Người là câu trả lời hoàn hảo nhất về tình yêu. Điều này tạo nên sự khác biệt hoàn toàn giữa Chúa Giêsu và nhóm Pharisêu, những người “nói mà không làm” (x. Mt 23,3). Chúa Giêsu Kitô đã yêu mến Thiên Chúa “hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn” (Mt 22,36)[6] và Người đã yêu mến tha nhân[7] cho đến việc bằng lòng chịu chết trên cây thập giá. Chính vì thế, Thánh Phaolô đã mời gọi các tín hữu hãy noi gương Chúa Giêsu Kitô[8] – Con Thiên Chúa nhập thể trong việc tự hiến chính mình vì tình yêu dành cho Thiên Chúa và nhân loại; để rồi chính chúng ta cũng trở nên mẫu gương cho người khác.[9]
Noi gương bắt chước Chúa Giêsu Kitô, chúng ta, những người Kitô hữu, hãy hết lòng yêu mến Thiên Chúa và tha nhân. Đừng sợ mở cửa cho Đức Kitô! Đừng sợ “hy sinh” vì yêu! Mỗi người chúng ta hãy tự hỏi
[1] Nhóm tác giả, Chân ngôn chú giải Tin Mừng các Chúa nhật và đại lễ – năm A, Dg. Anh em Học viện Đa Minh (Gò Vấp: Học viện Đa Minh, 2011), tr. 547.
[2] X. Donald A. Hagner, Matthew 14–28, Word Biblical Commentary, tập 33B (Texas: Word Books Publisher, 1995), tr. 648.
[3] X. Daniel J. Harrington, S.J., The Gospel of Matthew, Sacra Pagina, tập 1, Bt. Daniel J. Harrington, S.J. (Collegeville: The Liturgical Press, 2007.), tr. 315.
[4] “Có người nói: yêu người thân cận như chính mình tức là yêu mình trước để rối, sau đó mới yêu người thân cận. Nói như thế là không đúng và không phải là điều Thiên Chúa muốn dạy”. (Tanila Hoàng Đắc Ánh, Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu – dẫn vào và chú giải, in lần thứ ba (Thành phố Hồ Chí Minh: Mai khôi, 2001), tr. 300.)
[5] Câu nói của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, trích trong Vũ Văn An, “Đức Gioan Phaolô II và Max Scheler nói về Ý Nghĩa của Đau Khổ,” Thời Sự Giáo Hội, truy cập ngày 02-04-2025, http://vietcatholicnews.org/News/Html/89551.htm.
[6] Vì tình yêu dành cho Chúa Cha, Người “đã từ bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (1 Cr 2,7). Vì tình yêu dành cho Chúa Cha, Người đã tự hạ, suy phục Chúa Cha và vâng lời cho đến chết (x. Ga 5,30; 6,38; 8,29; Lk 22,42; 1 Cr 2,8). Vì tình yêu dành cho Chúa Cha, Người đã bị bắt bớ, sỉ nhục, bách hại và giết chết như có lời đã chép: “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà tôi đây phải thiệt thân” (Ga 2,17)
[7] Chúa Giêsu đã yêu mến tha nhân với một tình yêu vô điều kiện, vượt qua mọi giới hạn của con người. Người động lòng thương khi thấy đám đông không người chăn dắt; cứu chữa người mù, người phong cùi, người bị bại liệt, người bị quỷ ám. Người cứu sống con trai duy nhất của bà goá thành Naim (x. Lc 7,11-17); tha tội và giải thoát người đàn bà ngoại tình (x. Ga 8,1-11). Và đỉnh điểm, Chúa Giêsu đã tự nguyện bằng lòng chịu chết trên cây thập giá vì tình yêu dành cho tha nhân.
[8] “Anh em đã noi gương chúng tôi và noi gương Chúa, đã nhận lấy lời rao giảng giữa bao gian truân, với lòng hân hoan trong Thánh Thần, đến nỗi anh em đã nên mẫu mực cho mọi kẻ tin đạo trong xứ Macêđônia và Akaia” (1 Tx 1,6-7).
[9] X. Earl J. Richard, First and Second Thessalonians, Sacra Pagina, tập 11, Bt. Daniel J. Harrington, S.J., (Collegeville: Liturgical Press, 2007), tr. 48-49.
![]()


