VẺ ĐẸP RẠNG NGỜI CỦA “EVÀ MỚI” THEO QUAN ĐIỂM THÁNH IRÊNÊ LYON

318678421 683303393231709 9157731336485996101 n

 

 Dẫn nhập

Khi nói đến những vị giáo phụ lỗi lạc và tiêu biểu cả về đời sống đức tin thiêng liêng và đời sống mục vụ, chúng ta không thể không nhắc đến thánh Irênêô thành Lyon. Thánh nhân là một giáo phụ Hy Lạp lỗi lạc đã không ngừng dấn thân cho việc bảo vệ đạo lý đức tin tinh tuyền của Giáo hội trong suốt cuộc đời của mình. Thật chính đáng khi xem ngài là một Giáo phụ nổi tiếng về thần học tín lý[ii]. Hệ thống tư tưởng của ngài rất đồ sổ, cho nên bài viết này chỉ bàn đến một phần nhỏ về Thánh Mẫu học theo quan điểm của thánh nhân.

I. Thân thế

Thánh Irênê có lẽ đã được sinh ra vào khoảng năm 135-140 tại Smyrna thuộc vùng Tiểu Á, ngày nay là Izmir thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, nơi mà vào thời trẻ, thánh nhân đã theo học tại trường của giám mục Pôlycarpô, một môn đệ kế tục của thánh Gioan Tông đồ. ChúnNgày 28/6: Thánh Irênê - giám mục, tử đạo | TGP HNg ta không biết rõ thánh Irênê đã đến vùng Gaul khi nào, nhưng vào năm 177, ngài đã được được kể vào số linh mục đoàn tại Lyon. Cũng vào chính năm đó, ngài đã được sai tới Rôma[iii], mang theo lá thư của các tín hữu thành Lyon với nội dung trình bày về những rắc rối của bè Montanô[iv] để gửi cho Đức Giáo hoàng Eleutherius[v]. Sứ vụ đến Rôma đã giúp thánh Irênêô thoát được cơn bắt đạo của hoàng đế Marcus Aurelius. Đã có ít nhất 48 vị tử đạo trong biến cố này, trong đó có giám mục Pontius thành Lyon[vi], ngài đã chết vì bị ngược đãi trong tù. Vì vậy, khi quay trở về, thánh Irênêô đã được bổ nhiệm làm giám mục thành Lyon[vii]. Sự gắn bó bền chặt với truyền thống, với tình yêu và tri thức về Sách Thánh, kết hợp với đức tin sâu sắc và lượng tri thức uyên bác được hấp thụ từ một nền giáo dục khai phóng, thánh nhân đã trở thành một trong những giáo phụ vĩ đại nhất và một nhà hộ giáo thời danh. Điểm khác biệt giữa thánh Irênêô và các nhà hộ giáo trước ngài đó là, các nhà hộ giáo trước ngài bênh vực Kitô giáo trước mặt người đời, là nhà cầm quyền Rôma hay giới trí thức đương thời; còn thánh Irênêô thì bênh vực Kitô giáo chống lại các lạc giáo đang lan tràn trong nội bộ của Hội thánh lúc bấy giờ[viii]. Tertulianô cũng đã gọi ngài là một “nhà thám hiểm hiếu kỳ của mọi học thuyết”[ix]. Thánh nhân qua đời vào khoảng năm 202-203, có lẽ ngài cũng đã chịu tử đạo[x]. Phụng vụ kính thánh nhân vào ngày 28/6.

II. Đức Maria theo quan điểm của các lạc giáo[xi]

Trong những thế kỷ đầu tiên, có nhiều lạc giáo đề cao quá mức một trong hai bản tính của Đức Giêsu Kitô, dẫn đến việc có những quan điểm sai lạc về Đức Maria.

  1. Nhóm Ảo nhân thuyết (Docetismus[xii]) vì kinh thường vật chất và thân xác nên họ không chấp nhận nhân tính của Đức Giêsu. Ngài chỉ có thiên tính và chỉ mang cái vỏ bề ngoài là con[xiii] người mà thôi. Thế nên, Mẹ Maria không phải là Mẹ thật của Chúa Giêsu.
  2. Phái Duy bần[xiv](ebionismus) chấp nhận Đức Giêsu như là Đấng Cứu tinh nhưng không phải như là Con Thiên Chúa, coi Đức Giêsu thực là con của bà Maria và ông Giuse; nhờ sự công chính và khôn ngoan, Đức Giêsu được nâng lên cao trên hết mọi người. Vì vậy họ chỉ coi Đức Maria là mẹ của con người Giêsu.
  3. Nhóm Valentinô cũng chủ trương tương tự như nhóm ảo nhân. Họ cho rằng thân xác của Đức Giêsu thuộc về thiên giới, được một hóa công (démiurge) nặn lên trong lòng trinh nữ dưới hình thái thiêng liêng, đi lướt qua Đức Maria như nước chảy qua ống. Phái này không chối sự trinh khiết của Đức Maria; ngược lại họ dùng sự trinh khiết để chứng minh rằng thân xác của Chúa Giêsu có tính chất thiêng liêng. Thánh Irênê đã phản ứng mạnh mẽ chống lại phái này, bởi vì nếu Chúa Giêsu không nhập thể thực sự, không có thân xác như loài người chúng ta, thì thân xác của chúng ta sẽ không được nhận ơn cứu rỗi của Chúa.
  4. Marciôcũng chủ trương gần giống như Valentinô. Ông ta đối chọi vật chất với tinh thần, thể xác với linh hồn, Chúa của Cựu ước (nghiêm khắc độc ác) với Chúa của Tân ước (khoan nhân thương xót). Marciô giải thích về Đức Giêsu theo đường hướng Ảo thân thuyết[xv]. Con của Thiên Chúa tốt đã khoác lấy hình ảnh của một con người, chết trên thập giá để cứu chuộc loài người. Tuy nhiên ơn cứu chuộc chỉ ảnh hưởng tới linh hồn của con người chứ không ảnh hưởng tới thân xác vật chất. Để biện minh cho thuyết của mình về việc Chúa Giêsu không phải là người thật, Marciô trưng dẫn câu Kinh thánh, khi Chúa đặt câu hỏi : ai là mẹ ta và ai là anh em ta? (Mt 12,48) Nói thế có nghĩa là Ngài không có mẹ và không có anh em với ai hết; do đó Ngài không phải là người thật.
  5. Một số người Do thái thì đồn rằng bà Maria, tuy đã kết hôn với Giuse, nhưng đã ngoại tình với một tên lính Rôma tên là Pantêra và sinh ra Giêsu[xvi] 

III. Đức Maria – Evà mới

  1. Evà mới trong tương quan với Evà cũ

Thánh Irênê đã đưa ra một loại so sánh giữa Evà cũ và Evà mới như sau:

 

  Evà cũ Evà mới
1 Một người phụ nữ với đầy đủ ý chí và tự do, đồng trinh[xviii] Một người phụ nữ với đầy đủ ý chí và tự do, đồng trinh
2 Đã tin và vâng lời con Rắn (Ma quỷ) Đã tin và vâng lời Thiên sứ (Thiên Chúa)
3 Bất tuân Thiên Chúa Vâng phục (quy phục) Thiên Chúa
4 Mẹ của mọi người trong tội lỗi và sự chết Mẹ của Đấng toàn thắng sự dữ và giải thoát con người khỏi sự chết
5 Tất cả các tương quan bị bẻ gãy Sống trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân

Theo lời thánh Irênê: “Nhờ vâng phục, ngài đã trở nên nguyên nhân cứu độ cho mình và cho toàn thể nhân loại”[xix] hay “nút dây đã bị thắt lại vì Evà bất tuân, nay được gỡ ra nhờ Đức Maria vâng phục; điều mà trinh nữ Evà đã buộc lại bởi cứng lòng tin, thì Đức Trinh nữ Maria đã tháo ra nhờ lòng tin”[xx]. Thật thế, khi so sánh với Evà, thánh nhân gọi Đức Maria là “Mẹ của những kẻ sống”. 

Tội của ông bà nguyên tổ Ađam và Evà đúng ra là tội gì?

Cũng như sự bất tuân của Evà đã khiến bà, và tất cả loại người phải chết. Sự vâng phục của Maria là ơn cứu độ không những cho Đức Maria mà còn cho tất cả loài người. Chính vì thế, các giáo phụ thường quả quyết: “Qua Evà, sự chết xuất hiện, nhờ Đức Maria, sự sống ngự trị”[xxi].

Con người được dựng nên để sống trong sự hiệp thông với Thiên Chúa, nghĩa là được thông phần vào sự sống đời đời, mà không bao giờ phải chết. Thế nhưng, do sự kiêu ngạo và sự nghi vực mà Satan đã gieo vào tổ tông loại người, con người đã nổi lên chống lại Thiên Chúa. Chính vì thế, con người bị trói buộc, bị xiềng xích vào sự chết. Tuy nhiên, tất cả xiềng xích ràng buộc chúng ta vào cái chết hoàn toàn bị phá vỡ:

“Evà đã bị lừa dối bởi lời lẽ của Satan. Bà đã phải xấu hổ mà trốn chạy Thiên Chúa. Đức Maria lại được Thần sứ loan tin vui. Bà đã vâng lời và đã mang Chúa vào lòng. Nếu Evà bất tuân Thiên Chúa, thì Maria lại vâng theo. Vì thế, Trinh nữ Maria trở thành trạng sư cho bà Evà. Con người phải thần phục sự chết do tội của một người. Thì cũng bởi sự vâng phục của một người mà nhân loại được cứu. Bất tuân của bà Evà được quân bình lại bởi sự vâng phục của Đức Maria. Sai lầm của người đầu tiên đã được sửa chữa bởi người thứ hai. Sự ma mãnh của con rắn bị phai sắc bởi sự đơn giản của bồ câu. Tất cả mọi ràng buộc đưa đến sự chết đều bị cắt đứt hết”[xxii].

Như thế, sự so sánh giữa Evà với Đức Maria đã làm nổi bật các nhân đức của Đức Maria (tin và suy phục lời Chúa) đối lại với sự bất tuân của Evà. Từ đó Irênê đề cao Đức Maria như mẫu gương của sự thánh thiện hay nói theo ngôn ngữ của Origen gọi Đức Maria là “Παναγία[xxiii]’’.

  1. Evà mới trong tương quan với Adam mới

Trước tiên, chúng ta cần lưu ý rằng trung tâm của đời sống Kitô hữu là chính Đức Giêsu Kitô. Tất cả mọi sự trước sau, hiện tại hay tương lai đều phải được quy hướng về Đức Giêsu. Thánh Irênê đã so sánh  Maria – Wikipedia tiếng ViệtEvà với Đức Maria là Evà mới và cũng là người đã so sánh ông Ađam với Chúa Giêsu là Ađam mới. Ngài lập luận như sau: 

“Nếu Ađam đầu tiên mà sinh ra bởi một người đàn ông khác, thì ta cũng có lý mà nói rằng Chúa Giêsu là Ađam đệ nhị cũng được sinh ra bởi Giuse. Thế nhưng nếu Ađam (đầu tiên) đã được Lời Chúa nhào nặn từ đất, thì Ngôi Lời, Đấng thu tóm trong mình Ađam, lại càng phải giống Ađam trong sự sinh ra: thế thì tại sao Thiên Chúa lại không lấy bụi đất một lần nữa để cho Ađam đệ nhị được nặn trong lòng Maria?”.[xxiv]

Ađam mới được sinh ra từ Evà mới mà không làm mất sự trinh nguyên nơi Mẹ. Đức Giêsu là Thiên Chúa, đã nhập thể trong lòng trinh khiết của Đức Maria, vì vậy mà Người là mẹ của Chúa Giêsu. Thánh Irênê đã đề cập trực tiếp đến sự đồng trinh của Đức Maria qua nhiều luận chứng khác nhau.

       Ngài khởi đi từ việc phi bác các phe lạc giáo như sau: “Con Thiên Chúa đã sinh ra bởi Trinh nữ và là Đức Kitô vị Cứu thế; chứ không phải như có vài người nói, Đức Giêsu thì do bà Maria sinh ra còn đức Kitô thì từ trời xuống”[xxv].

Sau nữa, thật chính đáng khi thánh nhân nói rằng Đức Maria là “loại đất tinh tuyền và trinh khiết”, “thứ đất mịn nhất và trong sạch nhất”.[xxvi]Thứ đất này được nhào nặn nên từ công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa, bởi đôi tay của Thiên Chúa là Ngôi Lời và Thánh Thần. Đây là việc làm của tình yêu.

Đối với Irênê, chân lý về Thiên Chúa nhập thể liên hệ tới toàn thể sự cứu rỗi nhân loại: Con Thiên Chúa làm người để tập cho con người làm quen với việc tiếp nhận Thiên Chúa và tập cho Thiên Chúa quen sống với loài người, theo như ý định của Chúa Cha. Chính Thiên Chúa đã ban cho chúng ta dấu chỉ của ơn cứu rỗi, đó là Emmanuel sinh bởi đức Trinh nữ, Ngài đến cứu rỗi những người không thể cứu lấy mình[xxvii].

Đức trinh khiết nơi Đức Maria dẫn đưa chúng ta đến xác tín về căn tính của Đức Giêsu Kitô, Người vừa là Con Người THẬT vừa là Thiên Chúa THẬT. Xét vì Đức Maria là Mẹ thật, cho nên Đức Giêsu là người thật, thuộc miêu duệ của Abraham; Ngài cũng là Con Chúa, vì Ngài được sinh ra từ muôn thuở từ Chúa Cha, chứ không do sự can thiệp của đàn ông (Dialogus cum Triphone, 100s: PG 6,709-712)[xxviii]. Chính vì lý do đó, Thánh Irênê đã chống lại phái duy bần, khi họ dịch Isaia 7,14 sát bản Do thái như là “một cô gái sinh con”: Nếu dịch như vậy thì đâu còn chi là điềm lạ nữa, vì có khác chi bao cô gái khác? Sở dĩ Kinh thánh gọi là dấu chỉ là tại vì một “trinh nữ” sinh con, một dấu lạ do Chúa ban chứ không do con người làm ra (Dialogo cum Triphone, 84: PG 6,676)[xxix]. Như thế, niềm tin vào Đức Maria vừa là Mẹ vừa là trinh nữ là bảo đảm cho đức tin của chúng ta vào Đức Giêsu Kitô vừa là Thiên Chúa Thật và vừa là Người Thật.

“Quả thực, điều gì đã bị thắt lại thì chỉ có thể tháo cởi bằng chiều ngược lại[xxx]”: đó cũng là nhiệm vụ của Ađam mới và song hành, là nhiệm vụ của Đức Maria[xxxi]. Mối tương qua giữa Ađam mới và Evà mới trong công trình cứu chuộc còn được thể hiện rõ trong những lí lẽ sau:

“Thiên Chúa đã thiết lập mối thù giữa một bên là con rắn, bên kia là Người phụ nữ và Dòng dõi của bà, chính từ Dòng dõi này mà Đức Maria được sinh ra. Tội lỗi đã nảy sinh, khiến con người phải chết sẽ bị tiêu diệt cùng với vương quốc sự chết của nó. Ađam đã thua cuộc, kẻ thù tước đi sự sống của ông, rồi kẻ thù lại thua cuộc, Ađam tìm lại được sự sống của mình. Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? (1Cr 15,55)” [xxxii].

Evà đã cộng tác với Ađam trong việc bất tuân chống lại Thiên Chúa và dẫn loài người đến sự chết thế nào, thì ngược lại, Evà mới đã cộng tác với Ađam mới như vậy, để đưa con người từ sự chết đi vào sự sống bất diệt[xxxiii]. Mặt khác, vai trò hợp tác của Đức Maria nằm trong chương trình của Thiên Chúa, được bày tỏ qua việc Thiên sứ truyền tin tựa như kêu mời cộng tác. Đức Maria đã thuận nhận sứ mạng đó, cùng bước đi với Đức Kitô đầu của nhân loại. Từ thánh Irênê trở đi, các giáo phụ khai triển vai trò của Đức Maria trong kế hoạch cứu rỗi, đối lại với Eva đã lôi kéo tai họa cho nhân loại.

Như vậy, hình ảnh của Đức Maria như bà Evà mới được các giáo phụ sử dụng để nói đến sự cộng tác của Mẹ trong kế hoạch cứu rỗi nhân loại.

           

Kết luận

Từ những trình bày ở trên, vẻ đẹp rạng ngời của Evà mới là Đức Trinh Nữ Maria theo quan điểm của Thánh Irênê được đúc kết ở những xác quyết sau:

Thứ nhất, Đức Maria quy tụ nơi mình Evà cũ và chính Mẹ là Evà mới, một Evà làm đẹp lòng Thiên Chúa trong mọi sự, một thụ tạo toàn vẹn mà không hề vướng bơn nhơ gì.

Thứ hai, Đức Maria là Mẹ Đức Giêsu Kitô về nhân tính lẫn thiên tính. Chính vì thế, Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa.  Điều này được Công đồng Êphêxô (431) xác quyết và tuyên bố qua từ ngữ “Θεοτόκος”. Đây là “phán quyết” kết liễu các lạc thuyết như Ảo nhân thuyết (Docetismus), phái Duy bần (ebionismus), nhóm Valentinô, Marciô,…

Thứ ba, Đức Trinh Nữ Maria vừa là Mẹ (Mater) vừa là Trinh nữ (Virgin). Thế nên, Evà mới không chỉ đồng trinh trước khi sinh, mà còn đồng trinh “trong khi sinh” và “sau khi sinh” Đức Giêsu. Hay nói cách khác, Đức Maria đồng trinh trọn đời[xxxiv].

Thứ bốn, Evà mới cộng tác với Ađam mới trong công trình cứu chuộc[xxxv]. Thánh Irênê đã gọi Đức Maria là “causa salutis”, vì Mẹ là tiên trưng của Evà cũ là “causa mortis”[xxxvi]. Chính vì thế, Mẹ cũng được gọi là “Đấng Trung gian[xxxvii]” (μεσίτρια – Mediatrix). Hơn thế nữa, Thánh nhân còn đặt cho Mẹ danh hiệu “advocata – παράκλητος)[xxxviii]. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử thần học Kitô giáo, danh hiệu này được sử dụng cho Đức Maria.

Thứ năm, Đức Maria đã huỷ tiêu sự kiêu ngạo và sự ranh ma của con rắn xưa, là tác giả và biểu tượng của Satan, bằng đức khiêm hạ của mình[xxxix].

Tóm lại, sự so sánh giữa Evà với Maria đã đưa các giáo phụ, tựa như Irênê, làm nổi bật các nhân đức của Maria (tin và suy phục lời Chúa) đối lại với sự bất tuân của Eva. Từ đó Irênê đề cao Đức Maria như mẫu gương thánh thiện.

T.s. Phêrô Nguyễn Khắc Hà, MIC

 

[i] Ειρήνη: Bình anh

[ii] X. Luigi Gambero, SM,  Mary and the Fathers of the Church, Dg. Thomas Buffer (San Francisco: Ignatius, 1999), tr. 51.

[iii] X. Eusebius Caesarea, Ecclesiastical History, Dg. C.F.Cruse (Massachusetts: Hendrickson, 2011), tr. 160-161.

[iv] Thuyết Montanô (Montanism) là một lạc thuyết (heresy) do ông Montanus khởi xướng tại Phrygia vào thế kỷ II. Những người theo thuyết này đều tự nhận mình là tiên tri, loan báo Đức Kitô sắp quang lâm và tin rằng Chúa Thánh Thần sẽ khai sinh ra một Giáo Hội mới, chấm dứt vai trò của các giám mục và cả Đức Giáo hoàng. Đức Giáo hoàng Zephyrinus đã lên án lạc thuyết này vào khoảng năm 202 (Nguyễn Đình Diễn, Từ Điển Công Giáo Anh-Việt, (Biên Hoà: Đồng Nai, 2014), tr. 1338.

[v] X. Patrick J. Hamell, Handbook of Patrology (Alba House: New York, 1968), tr. 52.


[vi] X. Luigi Gambero, SM,  Sđd., tr. 51.

[vii] X. Eusebius Caesarea, Sđd., tr. 160.

[viii] Cũng nên lưu ý rằng, thực ra bối cảnh xã hội trong những thế kỷ ban đầu đã không thực sự thuận lợi cho Kitô giáo. Thế giới ngoại giáo đã quen với những vui thích nhục dục rất khó quay đầu một cách tự nhiên để trở về với những giá trị của chân lý đích thực. Hơn nữa, giữa những nhà trí thức, rất ít người tin rằng linh hồn sẽ sống lại ở đời sau. Thế nhưng, những yếu tố tiêu cực này vẫn có thể, một cách nào đó, lại là nền tảng khởi đầu cho một niềm khao khát vào tuyệt đối, và vào sự bất tử giữa đà suy thoái của các ý thức hệ và sự xuống cấp của các tập tục. (Philippe Tourault, Nhập Môn Lịch Sử Giáo Hội, Dg. Đỗ Huy Nghĩa, O.P. (Gò Vấp: Học Viện Đa Minh, 2020), tr. 14-15.)

[ix] Patrick J. Hamell, sđd.,tr. 52.

[x] “Truyền thống vẫn luôn cho rằng thánh nhân đã qua đời vào khoảng năm 202-203, và thánh Giêrônimô đã nói rằng ngài đã chịu tử đạo” (Patrick J. Hamell, sđd., tr. 52.)

[xi] X. Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP, “Đức Maria Trong Những Tác Phẩm Của Các Giáo Phụ”. Tuy cập ngày 30-09-2023,  https://dongnuvuonghoabinh.org/than-hoc/duc-maria-trong-nhung-tac-pham-cua-cac-giao-phu—lm-giuse-phan-tan-thanh-op-40197.html

[xii] Trường phái này đã xuất hiện trong các thư của Gioan (1Ga 1,1-3; 2,22; 4,2; 2Ga 7-10).

 

[xiv] X. Gerald O’collins và Edward G. Farrugia, Từ điển Thần học giản yếu, Dg. Lưu Văn Hy (TP. HCM: Tôn Giáo, 2015), tr. 114.

[xv] X. Gerald O’collins và Edward G. Farrugia, Sđd., tr. 233.

[xvi]X. Origen, Chống lại ông Celsus, I, 32.

[xvii] Eva có gốc tiếng Hipri là hawwah – do động từ hâyâh, nghĩa là “sống”.

[xviii] “Even though Eve had Adam for a husband, she was still a virgin…By disobeying, she became the cause of death for herself and for the whole human race. In the same way, Mary , though she was also had a husband, was still a virgin, and by obeying, she became the cause of salvation for herself and for the whole human race… The knot of Eve’s disobedience was untied by Mary’s obedience. What Eve bound through her unbelief, Mary loosed by her faith” (Irênê, Chống lạc giáo, III, 22,4. trích nguyên ngữ theo Luigi Gambero, SM,  Mary and the Fathers of the Church, Dg. Thomas Buffer (San Francisco: Ignatius, 1999), tr. 52.)

[xix] Irênê, Chống lạc giáo, III, 22,4.

[xx] Irênê, Chống lạc giáo, III, 22,4.

[xxi] Vaticanô II, Hiến chế Tín lý về Giáo Hội, số 56.

[xxii] Sour Gabriel Peters, Đọc Giáo Phụ, Dg. Đỗ Huy Nghĩa, O.P (Gò vấp: Học viện Đa Minh, 2022), tr.264.

[xxiii] GLCG 493.

[xxiv] Irênê, Chống lạc giáo, III, 21,6.

[xxv] Irênê, Chống lạc giáo, III, 16,2.

[xxvi] Sour Gabriel Peters, sđd., tr. 263.

[xxvii] X. Irênê, Chống lạc giáo III, 20,2-3; 22,1-2.

[xxviii] X. Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP, “Đức Maria Trong Những Tác Phẩm Của Các Giáo Phụ”. Tuy cập ngày 30-09-2023,  https://dongnuvuonghoabinh.org/than-hoc/duc-maria-trong-nhung-tac-pham-cua-cac-giao-phu—lm-giuse-phan-tan-thanh-op-40197.html

[xxix] Trích như trên.

[xxx] Irênê, Chống lạc giáo, III, 22,4.

[xxxi] X. Sour Gabriel Peters, Sđd., tr. 263.

[xxxii] Irênê, Chống lạc giáo, III, 23,7.

[xxxiii] X. Luigi Gambero, SM,  Sđd., tr. 53.

[xxxiv] Đức Maria vẫn còn nguyên vẹn khi sinh Đức Giêsu hàm chứa trong tước hiệu Maria “trọn đời đồng trinh” đã được Đức Giáo hoàng Martin I tại Công đồng Lateran I (649) công bố là tín điều.

[xxxv] GLCG 494.

[xxxvi] Luigi Gambero, SM, Sđd., tr. 56.

[xxxvii] “Tuy nhiên phải hiểu cho đúng điều này để không giảm cũng như không thêm gì vào địa vị và hiệu năng của Đức Ki-tô, Đấng Trung gian duy nhất. Thật vậy, không một tạo vật nào có thể được kể ngang hàng với Ngôi Lời nhập thể và cứu chuộc; nhưng cũng như chức tư tế của Đức Ki-tô được thông ban dưới nhiều hình thức cho các thừa tác viên và giáo dân, và cũng như sự tốt lành duy nhất của Thiên Chúa được ban phát cho các tạo vật theo nhiều cách khác nhau, thì sự trung gian duy nhất của Đấng Cứu chuộc không loại bỏ nhưng đúng hơn khơi dậy nơi các thụ tạo sự cộng tác đa dạng được chia sẻ từ một nguồn mạch duy nhất”. (Vaticanô II, Hiến chế Tín lý về Giáo Hội, số 62)

[xxxviii] X. Luigi Gambero, SM, Sđd., tr. 56.

[xxxix] X. Sđd., tr. 55.

Loading

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang